In retrospect

Có phải Vovinam là một võ phái hay nhất trên thế giới?

Tác giả : Cao Việt

Câu hỏi này dự định đặt ra để các em môn sinh Vovinam thi đua thảo luận (debate) trong kỳ trại hè tại Bendigo 2011 nhằm mục đích rèn luyện nhân cách của các em. Mặc dù thời gian giới hạn không cho phép chúng ta thực hiện như mong muốn nhưng câu hỏi này đã theo tôi về mãi tận Melbourne. Hôm nay tôi xin mượn ý này để có vài lời tâm tình với các sư huynh tỷ đệ muội.

(Thật ra câu hỏi trên về phương diện chuyên môn đã vượt quá tầm hiểu biết của một cựu môn sinh như tôi vì thế tôi chỉ xin được đóng góp với những ưu tư và sự hiểu biết rất giới hạn của một phụ huynh mà thôi!)

Như chúng ta đã biết có rất nhiều võ phái trên thế giới mà hầu như môn võ nào cũng được phát sinh và hình thành trong những giai đoạn mà xã hội địa phương có nhiều tranh chấp về quyền lợi, về ý thức hệ, về lãnh thổ hay những mưu toan chính trị. Nếu người Nhật hãnh diện về tinh thần võ sỉ đạo và các võ phái của họ như Karate, Nhu Đạo v.v. một thời phát triển cực thịnh trong xã hội Nhật với sự phân quyền của các lãnh chúa, Người Đại Hàn cũng có được Thái Cực Đạo, Hapkido v.v., Người Trung Hoa với Thiếu Lâm, Kung Fu v.v. đã đóng góp rất nhiều nhân tài giúp nước dưới các triều đại phong kiến xã hội nhiễu nhương. Thế thì các võ phái Việt Nam đã đóng góp được gì cho xã hội và con người Việt Nam.

Ngược lại dòng lịch sử, dân tộc của chúng ta luôn phải chiếu đấu triền miên để sống còn, để không bị diệt vong trước bao cuộc xâm lăng từ phương bắc, loạn lạc, nội chiến từ những cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Trong những điều kiện nghiệt ngã đó nền võ thuật Việt Nam đã hình thành trong lòng dân tộc tự ngàn xưa. Đã có một thời cha ông ta đã phải đương đầu với những nền võ thuật hùng mạnh nhất của nhân loại, ba lần đánh bại quân Mông Cổ, một đế quốc vô địch từ Âu qua Á, họ đã từng đánh chiếm, dẫm nát một nửa thế giới bằng một đội quân được trang bị với những võ sỉ thiện chiến vào bậc nhất thời bấy giờ, nhưng khi đến Việt Nam họ phải ba lần cúi đầu khuất phục.

Chúng ta có quyền hãnh diện về điều đó vì nền võ thuật của người Việt đã là một trong những yếu tố quyết định để chứng minh rằng Việt Nam là dân tộc duy nhất có thể thực hiện được những chiến công hiển hách nhất của lịch sử nhân loại.

Đó là chuyện của thời xưa, thời mà nền võ thuật cực thịnh của người Việt đã đào tạo biết bao nhiêu nhân tài cho đất nước:

–       Không chỉ biết múa roi đi quyền nhưng còn có uy vũ, có tài thao lược như Đức Trần Hưng Đạo.

–       Không chỉ biết múa kiếm bắn cung mà còn hào hùng nhiệt huyết như Hoài Văn Hầu Trần quốc Toản mới 16 tuổi đã biết quên mình vì đất nước: Phá cường địch, báo hoàng ân!

–       Không chỉ có võ công thượng thừa mà còn trung can đãm lược như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng: Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!

Vậy thì thời nay với Vovinam là một trong những võ phái hậu duệ của nền võ thuật Việt Nam thì chúng ta phải nhận định như thế nào trước câu hỏi được đặt ra là: “Có phải Vovinam là một võ phái hay nhất trên thế giới?”

Thật ra sẽ không một tiêu chuẩn nào để đánh giá trình độ cao thấp của các nền võ thuật với nhau vì những yếu tố sau:

–       Nếu dựa vào kỹ năng võ thuật để phân định đẳng cấp thì không đúng vì mỗi một nền võ thuật có một cái hay riêng, đòn thế này có thể khắc chế đòn thế kia nhưng lại bị vô hiệu hóa bởi những đòn thế khác.

–       Nếu dựa vào những đóng góp hay những chiến công lịch sử má đánh giá thì quá chủ quan vì nền võ thuật nào cũng một thời đóng góp rất nhiều cho sự tồn vong của các dân tộc phát sinh ra nó.

–       Nếu dựa vào mức độ phát triển trên toàn thế giới thì thật ra hiện nay đã có rất nhiều võ phái được phát triển trên toàn thế giới trước Vovinam rất lâu.

Vì thế tôi xin được tạm sửa đổi câu hỏi trên một chút để chúng ta có thể nhìn vấn đề một cách tích cực hơn: “Làm sao để có thể đưa Vovinam sánh vai cùng với các võ phái khác trên thế giới?”

Các võ phái khác từ lâu đã được phát triển khắp nơi có lẽ một phần nhờ vào khả năng tổ chức, trình độ võ thuật của các môn sinh, tuy nhiên các yếu tố này chưa đủ để phái triển môn phái đến tầm cở thế giới. Vì với trình độ võ thuật cao và có khả năng tổ chức thì cùng lắm là tổ chức đấu võ đài như phường sơn đông mãi võ bán thuốc dán là cùng hoặc đở hơn một chút là mở lớp dạy võ để kiếm sống qua ngày mà thôi! Tôi tin rằng yếu tố quan trọng mà các võ phái này đã phát triển vượt bực là họ có được những môn sinh ngoài tài cao, võ giỏi họ còn là những môn sinh hết lòng biết hy sinh và tận tụy cho môn phái, có đức độ để thu phục lòng người, biết tôn sư trọng đạo, biết nhìn xa trông rộng để trọng dụng nhân tài nhất là biết tạo cơ hội cho các thế hệ giỏi gian kế thừa gánh vác mọi công việc có liên quan đến sự phát triển môn phái.

Vovinam mặc dù đã có mặt cũng khá lâu ở các nước Âu châu, nhưng thật sự phát triển ra khắp nơi trên toàn thế giới phần lớn kể từ 1975 sau làn sóng của người Việt tỵ nạn CS. Tại Úc, tôi được biết đến Vovinam từ những ngày đầu của người Việt tỵ nạn, Vovinam sống còn và phát triển cho đến ngày nay hoàn toàn nhờ vào sự hy sinh, tận tụy của các sư huynh tỷ đệ muội hết lòng cho môn phái. Những con chim đầu đàn là Thầy Trần Huy Quyền, Thầy Đặng Công Hậu, Thầy Diệp Khôi tại Victoria, Thầy Lê Công Danh tại NSW và biết bao nhiêu vị khác đã lèo lái con thuyền Vovinam cho đến ngày nay. Qua biết bao thăng trầm thay đổi của thời gian, của lòng người, kẻ còn người mất hôm nay tôi xin được gởi đến những con chim đầu đàn đó lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ về những đóng góp cao quí này.

Tôi cũng rất vui mừng trước sự lớn mạnh của Vovinam đặc biệt là sau kỳ trại vừa qua tôi nhận thấy có rất nhiều môn sinh trẻ rất có khả năng làm việc quên mình và biết hy sinh. Đây là một dấu hiệu tốt cho tương lai môn phái. Tuy nhiên điều làm tôi ưu tư hơn hết là:

Làm sao để những nhân tài trẻ tuổi này có thể đóng góp và phát huy hết khả năng của họ cho môn phái?

Làm sao chúng ta có thể có được một sự nối kết bền vững mà dựa vào đó những nhân tài trẻ này sẽ được rèn luyện nhiều hơn về võ thuật, về khả năng tổ chức, về nghệ thuật lãnh đạo, và đặc biệt được chăm bón nhiều hơn về võ đạo, về tác phong đạo đức của một môn sinh Vovinam.

Thật là sai lầm biết bao! nếu chúng ta chỉ chú tâm đánh giá và đào tạo thế hệ kế thừa dựa vào những tiêu chuẩn có công cán nhưng thiếu rèn luyện hay chỉ biết múa kiếm đi quyền nhưng thiếu khả năng lãnh đạo và khả năng tổ chức, điều này còn nguy hiểm hơn nữa cho tương lai Vovinam nếu chúng ta lại thực hiện những tiêu chuẩn trên một cách hết sức dễ dãi. Trình độ võ thuật không cao, tác phong đạo đức không có, thiếu khả năng làm việc, hay có đẳng cấp cao mà không chịu dấn thân hy sinh, thì điều đó chắc chắn sẽ đưa đến những hệ lụy khó lường!

Chỉ khi nào! Chỉ khi nào! chúng ta có được những môn sinh được đào luyện kỷ càng về mọi mặt, phải được thử thách và trui rèn một cách cẩn trọng thì may ra trong vài thập niên kế tiếp chúng ta mới có chút hy vọng sánh vai cùng các võ phái khác để có thể cống hiến những tinh hoa về võ thuật của người Việt cho nhân loại nói chung và đền đáp lại món nợ ân tình với các dân tộc đã cưu mang mà giúp đỡ chúng ta nói riêng!

Một trong những cái hay của người Tây Phương mà tôi học được là tinh thần thượng võ của họ. Trong bất kỳ cuộc tranh tài nào họ rất coi trọng tinh thần thượng võ luôn ca ngợi tác phong của những nhà vô địch. Người này đôi khi không phải là người luôn chiến thắng nhưng họ là những người làm đấu thủ và mọi người phải nể phục vì tài nghệ cũng như vì tác phong khiêm tốn, thắng không kiêu, bại không nản! (best and fairest)

Vì thế, sẽ không có môn phái này hay hay môn phái kia dở mặc dù trong mỗi thời điểm sẽ có những võ sỉ của các võ phái chiến thắng trên giới hạn của võ đài. Nhưng tôi thiết nghĩ một nhà vô địch của những nhà vô địch đúng nghĩa sẽ không chỉ giới hạn của những cuộc tranh đấu hơn thua trong giới hạn của võ đài mà họ là những người võ sỉ trong bất cứ nơi đâu luôn sống và hành xử đúng theo phương châm võ thuật và võ đạo song hành: bàn tay thép đặt trên trái tim từ ái.

Có phải chăng đây mới chính là cái mức cao nhất của võ thuật?

Có phải chăng đây cũng là tâm nguyện của Võ Sư Sáng Tổ luôn muốn nhắc nhở và kỳ vọng vào chúng ta!?

Nghiêm lễ

Cao Việt

To be translated.

 

========================================================================

 

Sáng mãi tinh thần Vua Quang Trung: “Nam quốc

anh hùng chi hữu chủ”

 

 

Tượng Nguyễn Huệ – Quang Trung trong “Tây Sơn Tam Kiệt” – bộ ba tượng anh em Tây Sơn ở Bảo tàng Quang Trung (tỉnh Bình Định)

VN Tayson

Lê Phước

Sut my ngàn năm qua k t ngày dng nước, người Vit Nam ít khi được yên n bi tham vng xâm ln ca anh bn láng ging khng l phương Bc. Cũng trong my ngàn năm gi nước đó, tinh thn hy sinh tt c đ bo v ch quyn quc gia ca người Vit Nam luôn được th hin mt cách mnh m. Đến thế k th 18, tinh thn đó li thêm mt ln na được khng đnh vi anh hùng áo vi-hoàng đế Quang Trung trong chiến thng đp tan 29 vn quân Thanh mượn c giúp nhà Lê đ thc hin mưu đ xâm lược.

Lưỡng đu th đch

Vào thế kỷ thứ 18, xã hội Việt Nam lâm vào một tình thế vô cùng bi đát: Đất nước đã bị chia cắt hơn 200 năm, ở miền Bắc nhà Lê thì vẫn còn tồn tại nhưng chỉ là bù nhìn, mọi quyền hạn nằm trong tay chúa Trịnh, còn tại miền Nam thì do chúa Nguyễn cai trị. Trong bối cảnh đó, vào năm 1771, tại Bình Định-Quy Nhơn, phong trào nông dân Tây Sơn đã nổi lên dưới sự lãnh đạo của ba anh em nhà họ Nguyễn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Nguyễn Nhạc có đầu óc cục bộ, Nguyễn Lữ thì không có chí lớn lại thiếu năng lực, còn Nguyễn Huệ lại là một người đủ đầy hùng tài thao lược, có chí muốn thống nhất non sông, có tài kinh bang tế thế. Hầu như tất cả các trận đánh lớn và mang tính quyết định của quân Tây Sơn đều do Nguyễn Huệ chỉ huy. Chính Nguyễn Huệ đã ra quân dẹp chúa Nguyễn trong Nam và tề chúa Trịnh Ngoài Bắc.

Phong trào Tây Sơn đến năm 1787 coi như đã lẫy lừng thanh thế, có thể tiến tới làm chủ vận mệnh non sông. Thế nhưng, cũng chính năm ấy, anh em nhà Tây Sơn lại xảy ra mâu thuẩn: Nguyễn Huệ muốn tiếp túc chiến đấu để thống nhất quốc gia, còn Nguyễn Nhạc thì e ngại Nguyễn Huệ vượt tầm kiểm soát của mình. Lãnh thổ của nhà Tây Sơn khi ấy được Nguyễn Nhạc chia làm ba:

– Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Qui Nhơn.
– Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định.
– Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất Thuận Hóa trở ra đèo Hải Vân.

Mâu thuẫn đi đến mức Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ phải ra quân đánh nhau. Rồi quân Nguyễn Huệ bao vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc buộc phải chít khăn tang đứng trên mặt thành khóc than kể lể. Nể tình anh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ mới thu binh.

Nhân cơ hội nội bộ Tây Sơn chia rẽ, các thế lực chống Tây Sơn bèn trỗi dậy. Ở phía nam, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của người Pháp, toan trở về đánh chiếm Gia Định. Đông Định vương Nguyễn Lữ bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn. Còn ở phía Bắc, mẹ con Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây Sơn. Vua nhà Thanh lúc bấy giờ là Càn Long bèn nhân cơ hội đó hạ chiếu phong cho Tôn Sỹ Nghị làm Chinh Man Đại tướng quân, điều động quân lực của bốn tình Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu bao gồm 29 vạn người (kể cả quân lính tác chiến và dân phu phục dịch hậu cần). Quân Thanh chia làm ba đạo tiến vào Đại Việt dưới danh nghĩa “Phù Lê diệt Tây Sơn”. Càn Long còn đặc cử Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Phúc Khang An cho thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Phúc Khang An cho thiết lập 18 kho quân lương để phục vụ cho đội quân Nam tiến.

Như vậy, Quân đội Tây Sơn đang đứng trước cái cảnh lưỡng đầu thọ địch: cái họa Nguyễn Ánh ở miền Nam, và đặc biệt là cái họa ngoại xâm ở miền Bắc. Vận nước như chỉ mành treo chuông, gánh nặng đè lên vai Nguyễn Huệ quả thật quá lớn, và nếu không phải một thiên tài quân sự như Nguyễn Huệ thì khó lòng mà lo liệu vuông tròn cho được.

Tiến quân thn tc

Nguyễn Huệ đứng trước hai lựa chọn: Nam tiến hoặc Bắc tiến. Cả hai mặt trận đều nước sôi lửa bỏng và cần đến ông, tuy nhiên, nếu ông quá sa vào một mặt trận thì mặt trận kia sẽ vỡ. Tuy nhiên cái họa xâm lăng ở phương Bắc là cần kíp hơn. Nguyễn Huệ bèn sắp đặt người cố thủ tại Gia Định, đồng thời chuẩn bị xuất quân Bắc tiến cự quân Thanh. Mặc dù nhận thức được quân Mãn Thanh phía Bắc là nguy cơ lớn hơn và cấp bách hơn nhưng Nguyễn Huệ không thể đánh địch theo chiến thuật trường kỳ như triều đại nhà Lý, nhà Trần trước đó đã làm để chống quân phương Bắc. Vì vậy ông quyết định chọn cách đánh thần tốc để sớm giải quyết chiến trường miền Bắc.

Ngày 17/2/1788 quân Tây Sơn trấn giữ Thăng Long đã theo kế sách của Ngô Thì Nhậm làm kế không thành, rút toàn bộ quân thủy bộ về đóng ở Biện Sơn và Tam Điệp (phía nam tỉnh Ninh Bình). Vì thế quân Thanh vào chiếm thành Thăng Long một cách dễ dàng, không mất một mũi tên. Do quá dễ dàng nên quân Thanh bắt đầu kiêu ngạo, Tôn Sỹ Nghị còn chẳng buồn truy kích Tây Sơn.

Tuy nhiên, trước những cảnh báo của vua tôi Lê Chiêu Thống, Tôn Sỹ Nghị cũng bắt đầu thấy sợ nên sau khi tiến binh vào Thăng Long đã cho chia quân ra đóng ở nhiều điểm để tiện bề hỗ trợ nhau khi tác chiến. Đạo quân Lưỡng Quảng đóng tại những khu bãi rộng hai bên bờ sông Hồng, bắc cầu phao qua sông. Quân của Sầm Nghi Đống đóng tại gò Khương Thượng (Đống Đa). Đại bản doanh của Tôn Sỹ Nghị đóng ở cung Tây Long, quân “Cần Vương” của Lê Chiêu Thống đóng ở nội thành. Đạo quân Vân Nam đồn trú tại Sơn Tây. Tôn Sỹ Nghị hạ lệnh sẽ tấn công Tây sơn vào ngày mùng 6 tết.

Ngày 29/11/1788 (âm lịch), đại quân của vua Quang Trung ra tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân cùng với 200 voi chiến. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ tinh thần và ý chí quyết chiến quyết thắng của ba quân. Ngay sau lễ duyệt binh, quân Tây Sơn trực chỉ Bắc Hà, và ngày 20/12/1788 âm lịch thì đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, vua Quang Trung hẹn ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, vào ăn tết tại Thăng Long.

Đêm 30 tết, quân Tây Sơn chính thức tấn công và lần lượt hạ các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó một cánh quân khác của Tây Sơn bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng (Đống Đa) khiến quân Thanh không kịp trở tay. Tướng chỉ huy đồn là Sầm Nghi Đống phải tự vẫn. Sáng mồng 5, vua Quang Trung mới tấn công và hạ đồn Ngọc Hồi. Trước đó, Tôn Sỹ Nghị cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây sơn đuổi theo, Tôn Sỹ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều đến nỗi mà sử sách ghi lại là: làm nghẽn cả dòng chảy của con sông.

Như vậy, chỉ trong vòng 40 ngày kể từ khi hay tin cấp báo từ phía Bắc, vua Quang Trung đã đập tan 29 vạn quân Thanh, cứu non sông khỏi cái họa ngoại xâm phương Bắc.

Mt chiến thng ca chính nghĩa, được lòng người thun ý tri

Quân Tây Sơn chỉ có 10 vạn phải chiến đấu với gần 30 vạn quân Thanh, tức là lấy một chọi ba. Thế nhưng, vua Quang Trung đã dành chiến thắng vang dội, đánh tan tác quân xâm lược, khiến Tô Sỹ Nghị phải chạy trối chết. Xác của quân thù ngổn ngang, đến mức mà tương truyền sau chiến thắng, các xác này được gom lại thành nhiều gò đống lớn, sau đó có đa mọc um tùm nên mới gọi là Gò Đống Đa. Nhà thơ Ngô Ngọc Du thời đó đã phải thốt lên thán phục:

Thánh nam xác giặc mười hai đống
Ngời sáng anh hùng đại võ công

Nguyên nhân nào đã dẫn đến chiến thắng vĩ đại này? Ta có thể tóm lược mấy ý như sau:

1) Thn tc và bí mt

Quân Thanh tiến vào Thăng Long vào ngày 17/11/1788, đến ngày 21/11 thì tin tức mới về đến Phú Xuân. Ngày 25/11, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế. Trong khi đó Tôn Sỹ Nghị quyết định ngày mùng 6 tiến binh đánh Tây Sơn. Như vậy, vua Quang Trung chỉ còn trên dưới 40 ngày để ra để điều binh ra tới Thăng Long tấn công quân Thanh. Phòng Tuyến đầu tiên của quân Thanh là Gián Khẩu tại Ninh Bình cách Hà Nội độ khoảng 90 cây số (180 dặm Trung Quốc). Từ Phú Xuân (Huế) ra đến Hà Nội có khoảng trên 600 km (1 200 dặm). Như vậy, để ra đến được Ninh Bình tấn công đồn Gián Khẩu vào ngày 30 tháng Chạp, quân đội của vua Quang Trung có trên dưới 35 ngày đường. Trừ 10 ngày tuyển binh ở Nghệ An, thì quân Tây Sơn chỉ còn có 25 ngày đường cho khoảng hơn 1000 dặm (trên 500 km). Còn nếu lấy Thăng Long làm đích, thì tính đến ngày mùng 5 tết, quân Tây Sơn phải vượt trên 600 km đường bộ trong 40 ngày, tức phải đi liên tục bình quân 15 km (30 dặm)/ngày.

Ta thấy, điều động một đội quân 10 vạn người và hơn 200 thớt voi mà phải đi liên tục và nhanh chóng như vậy thật là điều hi hữu. Nhưng vua Quang Trung đã làm được cái điều hi hữu ấy. Trong khi hành quân, yếu tố bí mật của quân đội Tây Sơn là tuyệt đối, nó kín đến mức mà các nhà sử học ngày nay vẫn còn tranh cãi về cách thức hành quân thần tốc của vua Quang Trung. Thế nhưng cơ bản có hai giả thuyết. Một là cho rằng quân lính đã chia thành nhiều tốp, mỗi tốp có 3 người, ba người này thay phiên khiêng nhau để một người được nghỉ, và như thế có thể đi liên tục. Một số người khác lại cho rằng, vào thời điểm đó, từ Huế ra Thăng Long chỉ có hai tuyến đường chính: Đó là đường dịch trạm hay đường thiên lý (gần trùng với Quốc lộ 1A ngày nay) và tuyến Thượng đạo, men theo đồi núi trung du phía Tây, giãn cách với Quốc lộ 1A từ 30 – 40km đến 70 – 80km, và vua Quang Trung đã chọn đường Thượng Đạo để tránh tay mắt kẻ thù.

Cuộc tranh cãi vẫn chưa ngã ngũ. Thế nhưng, sự thật càng khó truy tìm chừng nào, thì ta càng thấy cái thiên tài quân sự của vua Quang Trung lớn chừng ấy. Và trên thực tế, điều mà thế hệ sau của ông phải vắt óc suy nghĩ vẫn chưa ra thì ông đã làm được. Chính nhờ hành quân thần tốc và tuyệt mật, nên quân đội Tây Sơn đã tạo được thế tấn công bất ngờ, khiến giặc không kịp trở tay. Sử sách vẫn còn ghi lại những lần tấn công của quân Tây Sơn vào đồn giặc mà quân giặc phải bàng hoàng chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

2) Được lòng ba quân và dân chúng

Đây là nguyên nhân chính yếu dẫn đến chiến thắng diệu kỳ của vua Quang Trung, bởi nếu có hành quân thần tốc cỡ nào mà không được dân ủng hộ, không được ba quân hết lòng chiến đấu thì cũng không thể thành công cho được.

Ta nhớ lại rằng, khi ra đến Nghệ An, vua Quang Trung cho dừng binh để tuyển mộ thêm quân sĩ và tổ chức lễ duyệt binh. Trước ba quân tướng sĩ, ông đã dõng dạc nói: “Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện đang ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, tất cả đều được phân biệt rõ ràng, Bắc Nam hai phương chia nhau cai trị, người phương Bắc không phải nòi giống ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời Hán đến nay, chúng đã bao phen cướp bóc nước ta, cho nên người mình không ai chịu nổi, đều muốn đánh đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ… các ngài không nỡ ngồi yên nhìn chúng làm điều tàn bạo, cho nên đã thuận theo lòng người mà dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về hẳn bên phương Bắc”…. Lợi hại và được thua đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang mưu đồ lấy nước Nam ta mà đặt thành quận huyện của chúng, không biết trông gương các đời Tống, Nguyên, Minh thuở xưa, vì thế ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng…”.

Lời nói trên đã thể hiện quá rõ ràng tinh thần của vua Quang Trung là: Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử của người Việt Nam, đã từng được danh tướng Lý Thường Kiệt đời Lý tuyên bố trong bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”, và cũng đã được Nguyễn Trãi đời Hậu Lê nêu bật trong “Bình Ngô Đại Cáo”. Vua Quang Trung đã thấm nhuần tinh thần đó, và chiến đấu cũng trong tinh thần đó. Đây là chân lý không thể phủ nhận của dân tộc Việt Nam đã được khẳng định qua biết bao thế hệ, và đã được vua Quang Trung kế thừa.

Trong lễ duyệt binh nói trên, vua Quang Trung còn tuyên bố trước ba quân mục đích của cuộc Bắc tiến như sau:

Đánh cho để dài tóc,
Đánh cho để đen răng,
Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.
Tức là:
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó ngựa xe tan tác
Đánh cho nó manh giáp chẳng còn
Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ

Đã quá rõ ràng, mục tiêu của vua Quang Trung trong cuộc chiến chống quân Thanh là để gìn giữ những tập tục riêng của người Việt (giữ tóc dài và nhuộm răng đen), và đặc biệt là để khẳng định thêm một lần nữa cái chân lý: Người Việt làm chủ nước Việt, nếu ai xâm phạm sẽ bị đánh cho ngựa xe tan tác, cho giáp bào tả tơi, hay như Lý Thường Kiệt nói là “sẽ bị đánh tơi bời”. Sử cũ chép: : “Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu. Rồi chiêng trống khua vang, quân lính gấp rút lên đường ra Bắc”. Chi tiết này thể hiện sự ủng hộ của ba quân đối với chủ soái Nguyễn Huệ đến dường nào.

Cộng thêm vào sự ủng hộ của ba quân đó chính là sự mong ngóng của lê dân đối với vua Quang Trung. Sử cũ chép rằng, quân Thanh vào thành Thăng Long ra sức cướp phá, hãm hiếp, khiến dân tình ta thán. Vua nhà Lê là Lê Chiêu Thống không lo cảnh mất quyền tự chủ quốc gia mà chỉ biết dựa vào thế lực ngoại bang để báo tư thù, thanh toán những người từng ủng hộ Tây Sơn, thảm khốc đến mức mà ngay cả mẹ ông cũng phải lên tiếng than trách. Lê Chiêu Thống thì phải chầu chực quỳ lụy Tôn Sỹ Nghị làm nhục quốc thể đến nỗi mà người đương thời phải than với nhau rằng: “Nước nam ta từ khi có đế vương đến bây giờ, không thấy có vua nào hèn hạ đến thế”. Trong bối cảnh đó, nguồn hi vọng duy nhất của người dân Việt chính là vua Quang Trung-Nguyễn Huệ.

Chưa hết, trong trận đánh Ngọc Hồi vào sáng mùng 5 tết, khi quân Tây Sơn tấn công vào đồn Ngọc Hồi, thấy có gió bắc, quân Thanh liền dùng ống phun lửa, khói tỏa mù trời, cách gang tấc cũng không nhìn thấy gì. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió Nam, lửa khói tạt ngược trở lại về phía quân Thanh, làm cho chúng bị thiệt hại rất nhiều, tạo thuận lợi cho quân Tây Sơn tấn công vào đồn. Rồi một chi tiết khác được sử cũ ghi lại là Nguyễn Ánh ở Gia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long đã sai người chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường gặp bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết. Phải chăng những chi tiết trùng hợp này là điềm báo rằng: Quân Tây Sơn được sự ủng hộ của đấng siêu nhiên, tức là được lòng trời. Nói cách khác, là vua Quang Trung bên cạnh « nhân hòa », còn được « thiên thời », mà được như thế ấy là bởi vì cuộc chiến đấu của ông là chính nghĩa, là để bảo vệ chủ quyền thiêng thiêng của dân tộc.

Kiên quyết chng ngoi xâm, hòa hiếu trong giao thip

Không chỉ là nhà quân sự thiên tài, mà trên mặt trận ngoại giao vua Quang Trung cũng tỏ ra là người quyền biến. Nhận xét về tài năng và đức độ của vua Quang Trung, Giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille (Cộng Hòa Pháp) cho rằng ông là người kiêm toàn văn võ:

Chiến thng Ngc Hi-Đng Đa đánh du lch s v mt người anh hùng, mt v tướng tài năng đã chiến thng v vang trong mt trn đánh không lâu dài. Có th nói, chiến dch Đng Đa là mt chiến dch nhanh nht trong lch s quân s Vit Nam. Nh tài điu binh khin tướng gii mà Quang Trung đã đánh bi 29 vn quân Thanh.

Cũng xin nhc li rng, trước đó Quang Trung cũng đã th hin tài thao lược ca mình. Như ông đã 4 ln vào chinh nam và cũng đã 4 ln chiến thng. Mt trong nhng chiến thng đó là trn đánh Rch Gm-Xoài Mút. Ri sau đó ông đã ra bc dp chế đ vua Lê chúa Trnh.

Quang Trung không ch là mt nhà quân s, mà ông là người kiêm toàn văn võ. Ông biết rng, sau khi đánh bi quân Thanh, thì s có nhng mưu toan tr li ca quân đch. Ông đã tìm ra mt con đường ngoi giao khôn khéo đ tránh s xâm lược ln th hai ca nhà Thanh, tc là ca mt cường quc quá ln đi vi Vit Nam.

Giáo sư Trịnh Văn Thảo cho rằng, tài năng và đức độ của vua Quang Trung để lại nhiều bài học quý giá cho thế hệ ngày nay :

Có nhng bài hc rt quan trng đi vi người Vit chúng ta ngày nay. Trước tiên, ta thy Nguyn Hu ch xưng vương sau khi đã chng kiến cnh vua tôi nhà Lê chy sang cu vin nhà Thanh. Yêu cu tình thế bt buc ông phi xưng Hoàng đế. Đó là mt hành đng khôn khéo bi nó giúp ông đt được lòng dân.

Th hai, mc dù là mt tướng tài đã đánh bi quân Thanh, nhưng ông không quên đường li ngoi giao đ tránh nn binh đao trin miên gia Vit Nam vi Trung Quc. Bài hc đây đó là: Chúng ta phi biết dung hòa gia võ lc và chính tr.

Kế đến, ta thy rng Quang Trung là mt người có hòa chí đem li an ninh và thnh vượng cho đt nước. Có ba bng chng cho điu này. Th nht, ông biết s dng và lng nghe người trí thc, tài năng. Quan h gia ông và La Sơn Phu T Nguyn Thip là mt minh chng cho thy mt nhà cm quyn nhà nước biết lng nghe li khuyên ca mt nhà trí thc hoàn toàn không tham chính. Th hai, Quang Trung có hoài bão sa sang mt nn chính tr đã thi nát Bc Hà dưới thi Lê-Trnh. Th ba, ông mun chn chnh li h thng giáo dc đã quá u mê bt đu t thế k 15 dưới nh hưởng ca Tng Nho và khoa bng. Ông có ý mun dùng ch Nôm làm ngôn ng chính ca dân tc, rõ ràng là mt vic chưa tng có.

Giáo sư Trịnh Văn Thảo tóm lược về anh hùng Nguyễn Huệ như sau:

Quang Trung là mt người bao gm đ ba đc tính ca người quân t thi xưa, đó là : nhân, trí, dũng. Ch tiếc mt điu là ông ch tr vì có 4 năm nên không th thc hin nhng hoài bão đó. Nếu không, tôi nghĩ rng, chúng ta có th tránh được ha xâm lăng xy đến my chc năm sau đó.

Điều mà giáo sư Trịnh Văn Thảo lấy làm tiếc cũng chính là suy nghĩ của đô đốc Vũ Văn Dũng khi vua Quang Trung mất vào ngày 29/7/1792 (âm lịch):

Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cố thi vi tự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất y Đường Tống thuyết anh hùng

Dịch:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã bôn ba đánh Nam dẹp Bắc với bao chiến công lừng lẫy. Thế nhưng, khi nhắc đến ông, thì người ta nghĩ ngay đến chiến thắng Đống Đa, một chiến thắng của một nước bé nhỏ trước một cường quốc hùng mạnh có tham vọng bá quyền, một chiến thắng khẳng định thêm một lần nữa chân lý bất diệt của dân tộc Việt Nam là “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Nguồn : RFI – http://www.viet.rfi.fr/

Flag Counter

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s